Chương 5: Tính bền vững xã hội- Cộng đồng, Sinh kế và Truyền thống

Th4 3, 2024 | Tin Tức Winci, Đọc sách cùng Winci, Kiến thức

1. Giới thiệu – Một cái nhìn tổng quan về các trang trại cà phê trên thế giới

ản lượng cà phê toàn cầu đã tăng gấp ba lần trong vòng 50 năm qua, tuy nhiên hầu hết sự tăng trưởng này đã được đảm bảo bởi hai nguồn gốc; Brazil và Việt Nam, có cấu trúc chi phí cạnh tranh nhất. Phần còn lại của sản lượng cà phê trên thế giới đã duy trì ổn định trong nhiều thập kỷ (Hội đồng Cà phê Quốc tế, 2014).

Đơn giản mà nói, các trang trại cà phê trên thế giới thuộc ba mô hình chủ yếu; công nghiệp nông nghiệp lớn, trang trại gia đình, hoặc người trồng cà phê nhỏ lẻ. Công nghiệp nông nghiệp lớn chủ yếu tồn tại ở Brazil. Chúng chiếm ít hơn 1% số trang trại cà phê trên thế giới, nhưng cung cấp khoảng 5-10% sản lượng cà phê toàn cầu (dữ liệu chưa công bố từ TechnoServe từ công việc của khách hàng, cuộc phỏng vấn ngành công nghiệp và nguồn dữ liệu cà phê quốc gia trên 20 nguồn gốc cà phê lớn, 2016).

Ipanema, Một trong những trang trại cà phê lớn nhất thế giới

Ipanema, Một trong những trang trại cà phê lớn nhất thế giới

Trang trại cà phê gia đình có nhiều điểm tương đồng với trang trại gia đình ở phương Tây và có diện tích lên đến vài trăm hecta. Những trang trại này thường là đa thế hệ với chủ nhân có trình độ cao và được đào tạo, thuê công nhân hỗ trợ trong các hoạt động trang trại như thu hoạch. Cà phê không chỉ là nguồn thu nhập quan trọng mà còn là một phần sôi động và quan trọng của cộng đồng xã hội kéo dài qua nhiều thế hệ. Trang trại gia đình có thể được tìm thấy ở nhiều quốc gia sản xuất cà phê nhưng đặc biệt là ở Trung Mỹ và Colombia. Tổng cộng, chúng chiếm dưới 5% số trang trại cà phê trên thế giới nhưng cung cấp khoảng 30% sản lượng cà phê toàn cầu (dữ liệu chưa công bố từ TechnoServe, 2016).

95% trang trại cà phê còn lại trên thế giới có thể được mô tả là chủ sở hữu nhỏ có diện tích dưới 5 ha. Hầu hết cà phê trên thế giới, khoảng 60% tổng sản lượng toàn cầu được sản xuất bởi các hộ nông dân nhỏ này (dữ liệu chưa được công bố của TechnoServe 2016). Tỷ lệ năng suất thấp hơn nhiều so với mức trung bình toàn cầu và theo xu hướng chung, các trang trại cà phê của hộ sản xuất nhỏ này đang bị thu hẹp quy mô do các trang trại được chia nhỏ theo từng thế hệ. Ở Uganda, quy mô trang trại nhỏ trung bình mỗi thế hệ giảm đi một nửa; khoảng từ 4 ha năm 1960 lên 2 ha năm 1990 và 1 ha ngày nay (TechnoServe và IDH, 2013). Điều này trái ngược với tình trạng hợp nhất nông nghiệp đã xảy ra ở Hoa Kỳ trong cùng thời kỳ khi quy mô sở hữu đất trung bình đã tăng gấp đôi (Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, 2002).
Trong số các trang trại sản xuất nhỏ bao gồm hầu hết các nhà sản xuất cà phê trên thế giới, khoảng một nửa có quy mô dưới 2 ha và tạo ra thu nhập thấp hơn định nghĩa được chấp nhận trên toàn cầu về nghèo đói cùng cực.

Chúng ta tới đây bằng cách nào nhỉ? Cà phê là một loại cây trồng có giá trị so với nhiều lựa chọn nông nghiệp thay thế và nó mang lại thu nhập quan trọng và đáng hoan nghênh cho những người trồng nó. Thu nhập này được sử dụng để trang trải chi phí sinh hoạt, nhà ở, giáo dục, y tế, v.v. Tuy nhiên, từ góc độ xã hội, hầu hết nông dân trồng cà phê và công nhân nông trại trên thế giới không được hưởng các tiêu chuẩn ngưỡng về thu nhập, dinh dưỡng, giáo dục và sức khỏe. Ở đây, chúng tôi sẽ tập trung sự chú ý vào các nông hộ nhỏ, những người chiếm đại đa số nông dân trồng cà phê và sản xuất phần lớn cà phê trên thế giới, để hiểu những thách thức xã hội mà họ gặp phải và những gì có thể làm để giải quyết tình huống của họ.

2. Chương trình về sự bền vững xã hội

Trong tháng 9 năm 2015, các nhà lãnh đạo thế giới đã thông qua một chương trình xã hội và môi trường để phát triển bền vững (http://www.un.org/sustainabledevelopment/). Chương trình này tập trung vào 17 mục tiêu phát triển bền vững nhằm chấm dứt nghèo đói, chống bất bình đẳng và công bằng, và đối phó với biến đổi khí hậu vào năm 2030 (Liên Hợp Quốc – Đại Hội Đồng, 2015).

Các mục tiêu này bao gồm (1) chấm dứt nghèo đói, (2) không đói, (3) sức khỏe tốt và phúc lợi, (4) giáo dục chất lượng, (5) bình đẳng giới, (6) nước sạch và vệ sinh, (7) năng lượng sạch và giá cả phải chăng, (8) công việc đáng tin cậy và tăng trưởng kinh tế, (9) công nghiệp, sáng tạo và cơ sở hạ tầng, (10) giảm bất bình đẳng, (11) thành phố và cộng đồng bền vững, (12) tiêu thụ và sản xuất có trách nhiệm, (13) hành động vì khí hậu, (14) cuộc sống dưới nước, (15) cuộc sống trên cạn, (16) hòa bình, công lý và các cơ quan mạnh mẽ, và (17) đối tác cho các mục tiêu.

Chương này sẽ đề cập đến bảy trong số các mục tiêu này, tập trung vào các vấn đề xã hội không thể giải quyết được mà phổ biến ở các nước đang phát triển, bao gồm nguồn gốc cà phê; chấm dứt nghèo đói, chấm dứt đói, đảm bảo cuộc sống khỏe mạnh, cung cấp giáo dục, tạo điều kiện cho phụ nữ và các cô gái phát triển, đảm bảo sự có sẵn của nước và vệ sinh, và thúc đẩy các thực hành lao động công bằng. Với mục tiêu cuối cùng là chấm dứt nghèo đói, bảo vệ hành tinh và đảm bảo sự thịnh vượng cho tất cả, ngành công nghiệp cà phê theo bản chất của nó có vị trí đặc biệt để đóng góp.

Mặc dù chúng tôi sẽ không thảo luận chi tiết ở đây, nhưng có sự công nhận ngầm rằng có sự liên kết giữa các mục tiêu khác nhau này. Những sợi dây chung của nghèo đói, xung đột, phân biệt đối xử và quản lý tài nguyên không bền vững được mắc kẹt chặt chẽ. Việc tạo điều kiện cho người nông dân nhỏ lẻ phụ thuộc vào việc đối phó với biến đổi khí hậu, đảm bảo dinh dưỡng đủ, thúc đẩy bình đẳng giới, và nhiều hơn nữa. Chúng tôi sẽ trình bày các ví dụ trong suốt các trường hợp mà ngành công nghiệp cà phê đang đối mặt với những mục tiêu này. Ngoài ra, ba câu chuyện cụ thể sẽ minh họa thông qua các ví dụ thực tế cách mà ngành công nghiệp cà phê đóng góp vào việc giải quyết vấn đề.

Một lưu ý cuối cùng là cần được đề cập. Mặc dù đã có rất nhiều công việc được thực hiện về chiều xã hội của ngành cà phê ở mức độ cụ thể (ví dụ, nghiên cứu một hợp tác hoặc một khu vực) thì dữ liệu ở mức độ toàn cầu (ví dụ, con số quốc gia hoặc toàn cầu liên quan đến người nông dân cà phê, cuộc sống và thu nhập của họ) lại biến đổi nhiều hơn. Ước tính đã được thực hiện dựa trên dữ liệu có sẵn.

2.1 Chấm dứt đói nghèo

Mục tiêu đầu tiên trong số này là chấm dứt nghèo đói ở mọi nơi. Nghèo đói cực đoan, hiện được đo lường là 1,25 đô la mỗi người mỗi ngày trong sức mua hàng đồng (Liên Hợp Quốc – Đại Hội Đồng, 2015), ước tính bao gồm hơn 800 triệu người. Dựa trên các ước tính khác nhau về số hộ gia đình cà phê trên toàn cầu, khoảng 50-100 triệu người trong tổng số này là những người trong các gia đình sở hữu hoặc làm việc trên các trang trại cà phê (Lewin et al., 2004; dữ liệu chưa được công bố của TechnoServe, 2016).

Có rất nhiều yếu tố được ghi chép và thường được trích dẫn tạo ra và duy trì nghèo đói trong cộng đồng cà phê. Những yếu tố này bao gồm: các yếu tố nông nghiệp-khí hậu như thiên tai; xung đột, các cơ quan chính trị (cả thuộc địa và hậu thuộc địa); quản trị; và bất bình đẳng xã hội dựa trên sắc tộc, chủng tộc, giới tính hoặc tầng lớp xã hội.
Tuy nhiên, những yếu tố khác cũng góp phần làm cho người nông dân cà phê nghèo, và ảnh hưởng của chúng ít rõ ràng hơn. Vĩ độ là một dự đoán về nghèo đói với các nền kinh tế ở vùng nhiệt đới nơi cà phê được trồng thường nghèo hơn so với những nơi ngoài vùng nhiệt đới (Sachs, 2001). Hiện tượng này vẫn đúng ngay cả trong các vùng kinh tế tích hợp về khí hậu ôn hòa và cận nhiệt đới; miền Nam Hoa Kỳ lạc hậu so với miền Bắc ôn hòa, Bắc u giàu có hơn Nam u. Đông bắc nhiệt đới của Brazil ít phồn vinh hơn Đông nam ôn hòa và Đông bắc Trung Quốc đã có thu nhập bình quân đầu người cao hơn Đông nam cận nhiệt Trung Quốc từ lâu.

Các yếu tố sinh học cũng đóng góp vào nghèo đói trong cộng đồng cà phê. Sự thiếu sương giá ở vùng nhiệt đới ức chế năng suất nông nghiệp và làm trầm trọng bệnh tật, đặc biệt là sốt rét. Mùa đông lạnh ngoài vùng nhiệt đới khiến côn trùng đi vào trạng thái ngủ đông ức chế chu kỳ của bệnh do côn trùng mang theo trong khi sương giá giúp tạo ra lớp đất màu mỡ phong phú. Chúng ta thường hình dung vùng nhiệt đới là nơi có đất màu mỡ phong phú nhưng đất nông nghiệp rừng nhiệt đới thường nghèo dinh dưỡng. Đất ở các vùng ôn hòa tích tụ nitơ và cacbon mà vẫn còn lại trong đất dưới dạng chất hữu cơ nhưng ở vùng nhiệt đới, côn trùng và vi khuẩn phân hủy chất nhanh chóng và ngăn chặn đất màu mỡ phát triển. Năng suất nông nghiệp thấp và tỷ lệ mắc bệnh cao gây tổn thất kinh tế và làm trầm trọng nghèo đói (Masters và McMillan, 2001).

Các quốc gia nội lục bao gồm nhiều nguồn gốc cà phê đối mặt với những thách thức đặc biệt làm trầm trọng nghèo đói. Trong Báo cáo Phát triển Nhân loại năm 2015, năm trong số sáu quốc gia có chỉ số Phát triển Nhân loại thấp nhất thế giới đều là quốc gia nội lục. Khoảng cách đến cảng biển, thời gian và chi phí bổ sung mà điều này tạo ra, và sự phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng và ổn định của hàng xóm dịch thành việc tiếp cận thị trường thế giới ít hơn và nghèo đói hơn (Faye et al., 2004).

Nhiều trong số những lực lượng gây nên nghèo đói hội tụ ở vùng nhiệt đới nơi cây cà phê đã tiến hóa và được trồng. Vĩ độ nhiệt đới hỗ trợ việc trồng cây cà phê nhưng ức chế năng suất nông nghiệp do đất nghèo dinh dưỡng và làm trầm trọng bệnh tật như sốt rét. Khí ẩm ấm trên đại dương nhiệt đới tạo ra động cơ cho các cơn bão xoáy phá hủy vốn nguồn con người, xã hội và kinh tế; đặc biệt là ở nguồn gốc cà phê ở Trung Mỹ. Các nguồn gốc cà phê nội lục như Uganda, Rwanda và Burundi thiếu tiếp cận cảng biển làm giảm sự cạnh tranh kinh tế của họ. Cuối cùng, nhiều nếu không phải hầu hết các nguồn gốc cà phê trên thế giới đã trải qua xung đột lớn trong vòng 50 năm qua bao gồm cuộc đảo chính, cách mạng, chiến tranh ma túy, diệt chủng, và nhiều hơn nữa. Trước bối cảnh như vậy, không ngạc nhiên khi hầu hết nông dân cà phê trên thế giới sống trên các miếng đất nhỏ với thu nhập dưới mức nghèo đói.

Cà phê không tạo ra nghèo đói, nó cùng tồn tại với nó. Cà phê là một trong số ít hàng hóa mà nông dân nhỏ lẻ nghèo đói ở vùng nhiệt đới có lợi thế cạnh tranh tự nhiên so với nông dân ở thế giới phát triển (dựa trên địa lý). Sản xuất của nông dân nhỏ lẻ đại diện cho phần lớn cà phê được sản xuất trên thế giới và đến các quán cà phê dọc theo Champs-E´lyse´es và các quán cà phê trên Wall Street. Thu nhập mà nông dân nhỏ lẻ nhận được từ mùa màng này cung cấp phương tiện để chi trả các chi phí tiền mặt như thức ăn bổ sung, giáo dục và chăm sóc sức khỏe.

Câu chuyện của Athanasie, một nông dân trồng cà phê người Rwanda

Câu chuyện của Athanasie, một nông dân trồng cà phê người Rwanda

Một cuộc thảo luận lâm sàng về sự thật và con số có xu hướng che giấu chúng ta khỏi hiện thực khắc nghiệt mà nghèo đói đại diện cho nông dân cà phê như Athanasie ở Rwanda (xem câu chuyện bên dưới), cũng như sự kiên trì anh hùng cần thiết. Trong vài thập kỷ qua, hàng trăm triệu đô la đã được chi tiêu bởi các cơ quan viện trợ, quỹ, tổ chức phi lợi nhuận, các công ty cà phê và những người khác trong nỗ lực giúp nông dân cà phê thoát khỏi nghèo đói. Câu chuyện của Athanasie là một lời nhắc nhở rằng với tài nguyên đầy đủ và các biện pháp can thiệp hiệu quả, cơ hội tồn tại để thay đổi tình hình hiện tại và giúp những người nông dân này vượt qua nghèo đói.

2.2 Chấm dứt nạn đói

Mục tiêu phát triển bền vững thứ hai yêu cầu chấm dứt nạn đói và suy dinh dưỡng vào năm 2030, bao gồm việc cung cấp cho tất cả mọi người, kể cả trẻ sơ sinh, thực phẩm an toàn, dinh dưỡng và đủ đầy suốt cả năm. Dinh dưỡng đủ đảm bảo trong giai đoạn 1000 ngày quan trọng từ khi bắt đầu mang thai đến sinh nhật lần thứ hai của trẻ là một trọng tâm đặc biệt.

Nhiều nhà nghiên cứu (Bacon, 2005, 2008; Me´ndez et al., 2010; Caswell et al., 2012) đã phân tích tình trạng không an ninh lương thực trong các vùng trồng cà phê và đưa ra những kết luận tương tự; nhiều nông dân nhỏ lẻ gặp khó khăn trong việc đáp ứng nhu cầu thực phẩm cơ bản. Thường thì tình trạng không an ninh lương thực có tính mùa vụ, với các gia đình phải đối mặt với những thách thức cụ thể trong khoảng 3 tháng mỗi năm trước khi mùa thu hoạch tiếp theo. Gia đình giải quyết khoảng trống thực phẩm này bằng các chiến lược như giảm lượng calo tiêu thụ, vay nợ, hoặc cắt giảm chi phí tiền mặt (như học phí, gas propan) để mua thực phẩm.

Nông dân cà phê nhỏ lẻ hiếm khi chỉ dựa vào cà phê để kiếm sống. Một trang trại cà phê điển hình có thể trồng cà phê để có thu nhập tiền mặt, cây lương thực như ngô để tự cung cấp, vật nuôi như một nguồn thu nhập bổ sung (ví dụ, sữa), lao động ngoại trang như thu hoạch mùa hoặc một thành viên trong gia đình làm việc ở thành phố, cũng như tiền chuyển phát từ một thành viên gia đình ở Mỹ hoặc châu u. Mỗi nguồn thu nhập này đều có rủi ro; hạn hán có thể làm suy yếu lương thực phụ thuộc vào mưa, một thành viên gia đình ở Mỹ có thể bị thương hoặc bị sa thải giảm tiền chuyển phát, giá cà phê có thể giảm hoặc một loại tác nhân gây bệnh như nấm lá có thể làm giảm sản lượng, và công việc mùa có thể khó khăn để đảm bảo.

Quan trọng, những rủi ro khác nhau này thường không tương quan; giá cà phê trên Sở giao dịch New York không phụ thuộc vào lượng mưa cục bộ tại Nicaragua hoặc triển vọng việc làm của một thành viên gia đình. Sự thiếu tương quan này quan trọng để cho phép gia đình đối mặt với những không chắc chắn biến động trong cuộc sống của họ. Nếu một nguồn thu nhập bị giảm hoặc bị loại bỏ, nguồn khác có thể cung cấp một mạng lưới an toàn.

Tổng cộng, những nguồn thu nhập này tạo thành một danh mục đa dạng. Vì lý do này, thu nhập từ cà phê và các loại cây lương thực được hiểu tốt nhất không đơn lẻ hoặc trong sự cạnh tranh mà thay vào đó là những thành phần bổ sung của thu nhập của nông dân nhỏ lẻ.

Mặc dù mỗi gia đình có những lựa chọn khác nhau, một lựa chọn phổ biến cho nông dân cà phê nhỏ lẻ là phân bổ khoảng một phần tư diện tích đất cho sản xuất cây lương thực (dữ liệu chưa được công bố của TechnoServe dựa trên cuộc phỏng vấn với nhân viên tại châu Phi và châu Mỹ Latinh, 2016). Đối với một trang trại 2 ha, điều này có nghĩa là khoảng một nửa hecta cho ngô, đậu, hoặc một số loại lương thực khác. Điều này cung cấp một mạng lưới an toàn tối thiểu quan trọng cho gia đình (có lẽ 700 kg thực phẩm mỗi gia đình mỗi năm)1 (Ngân hàng Thế giới, 2015) nhưng không đáp ứng được cả lượng calo tối thiểu được khuyến nghị để ngăn suy dinh dưỡng và cũng như sự đa dạng dinh dưỡng cần thiết cho một chế độ ăn uống lành mạnh bao gồm đạm, canxi, vitamin A và C và các chất vi lượng khác (Tulchinsky, 2010).

2.3 Đảm bảo cuộc sống khỏe mạnh

Mục tiêu phát triển bền vững thứ ba thiết lập một loạt các mục tiêu liên quan đến sức khỏe bao gồm giảm tử vong của phụ nữ và trẻ em, chấm dứt đại dịch AIDS, lao phổi và sốt rét; chống lại các bệnh truyền nước; giảm số lượng tử vong và bệnh tật từ các hóa chất nguy hiểm và nhiều hơn nữa.

Những người nông dân cà phê đối mặt với nhiều thách thức đã được ghi nhận bao gồm các bệnh truyền nhiễm, vấn đề sức khỏe và an toàn nghề nghiệp, và bạo lực tình dục. Mức độ nghiêm trọng và tần suất của các thách thức sức khỏe khác nhau rất lớn tùy thuộc vào địa lý và mức thu nhập. Đối với các trang trại lớn tại Brazil, các vấn đề sức khỏe và an toàn nghề nghiệp liên quan đến chấn thương từ máy móc, thuốc trừ sâu gây hại và việc tiếp cận thiết bị an toàn có thể được ưu tiên trong khi đối với người nông dân cà phê nhỏ lẻ ở châu Phi với ít hoặc không có tiếp cận đến cơ giới hóa hoặc nguồn cung cấp, “các bệnh của nghèo đói” bao gồm sốt rét, lao và HIV đặt ra mối đe dọa lớn nhất.

Mỗi năm, sốt rét nhiễm trùng khoảng 300-500 triệu người và gây tử vong cho hơn một triệu trẻ em. Sốt rét là bệnh địa phương ở nhiều nguồn gốc cà phê mặc dù người nông dân cà phê Arabica nhỏ lẻ sống ở độ cao trên 1500 m nhận được một số sự nghỉ ngơi. Độ cao cao dẫn đến nhiệt độ thấp làm ngăn chặn sự phát triển của cả ký sinh trùng sốt rét cũng như dân số muỗi anopheles làm nhiệm vụ là vectơ cho sốt rét. Theo thời gian, biến đổi khí hậu có thể dẫn đến sự gia tăng về mức độ mắc sốt rét ở các cộng đồng cà phê ở độ cao cao hơn.

Lao là một bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn tấn công phổi. Trước đây, nó được gọi là “hao phổi” và lây lan khi người nhiễm bắt đầu ho, hắt hơi hoặc khạc. Tổ chức Y tế Thế giới ước tính rằng một phần ba dân số thế giới (bao gồm nhiều nông dân cà phê trên thế giới) bị nhiễm bệnh, dẫn đến 1,5 triệu người chết vào năm 2014.HIV gây nhiễm trùng HIV và AIDS. Hơn 30 triệu người trên toàn thế giới nhiễm HIV dẫn đến hơn một triệu người chết mỗi năm. Phụ nữ chiếm hơn một nửa tổng số người nhiễm HIV ở Đông và Nam Phi.

Những thách thức sức khỏe lớn này được làm trầm trọng hơn bởi các yếu tố góp phần bao gồm vệ sinh không đủ và nước bị ô nhiễm, góp phần vào sốt rét và các bệnh ký sinh trùng; thiếu tiếp cận vào chăm sóc sức khỏe và thông tin sức khỏe, suy dinh dưỡng và lửa nấu ăn mở góp phần vào nhiễm trùng đường hô hấp cấp. Nhiều trong số những điều kiện này tác động trong một chu kỳ tăng cường tàn bạo; suy dinh dưỡng làm yếu hệ miễn dịch của con người dẫn đến nguy cơ mắc bệnh truyền nhiễm tăng cao và sự xuất hiện của bệnh làm giảm khả năng cơ thể hấp thụ và giữ chặt dinh dưỡng đủ để chống lại bệnh truyền nhiễm tiếp theo.
Đằng sau những số liệu u ám này có lý do để hy vọng. Tỷ lệ tử vong do lao, sốt rét và HIV đã trải qua sự suy giảm đáng kể trong những thập kỷ gần đây do sự tiến bộ trong hiệu quả và sự sẵn có của thuốc và các biện pháp can thiệp sức khỏe mở rộng. Điều này không có nghĩa là cuộc chiến đã được chiến thắng; tỷ lệ phổ biến vẫn còn cao và sự kháng thuốc mới nổi đang đặt ra một thách thức nghiêm trọng, nhưng nó cho thấy rằng tiến bộ có thể được đạt được.

Nghề trồng cà phê là một nghề nghề nghiệp đi kèm với những nguy hiểm liên quan đến việc sử dụng các hóa chất nông nghiệp, hoặc tai nạn từ việc sử dụng thiết bị nông nghiệp. Một lần nữa, những vấn đề này thường được thấy nhiều hơn ở các trang trại lớn với quỹ lao động lớn và nhiều nhân viên và phong trào chứng nhận đã giúp mã hóa các phương pháp tốt nhất chống lại những rủi ro như vậy.

Thuốc trừ sâu, ví dụ, đặt ra mối đe dọa về sức khỏe cho người nông dân. Vấn đề này đã được tập trung chú ý bởi một loạt các tổ chức trong suốt hai thập kỷ qua bao gồm chính phủ, các tổ chức phi lợi nhuận, cơ quan viện trợ, các hiệp hội cà phê tại nguồn gốc, các chương trình chứng nhận và nhiều hơn nữa đã làm việc không mệt mỏi để cải thiện trong lĩnh vực này. Endosulfan là một ví dụ về một loại thuốc trừ sâu cực kỳ độc hại đã từng được sử dụng trong ngành công nghiệp cà phê nhưng hiện đang bị loại bỏ. Trong 5 năm qua, nhiều quốc gia đã cấm sử dụng nó. Tiến triển lớn đã được đạt được mặc dù Endosulfan vẫn chưa hoàn toàn bị loại bỏ. Nó vẫn có thể được sử dụng ở một số nguồn gốc cà phê. Một bài báo gần đây của Đối tác Cà phê Bền vững đã nêu chi tiết lời khai của người nông dân về các mối đe dọa xã hội và môi trường của Endosulfan cũng như những thách thức của việc xử lý an toàn và tuân thủ lưu trữ thuốc trừ sâu.

Như với nghèo đói, các vấn đề sức khỏe lớn như sốt rét hoặc lao cùng tồn tại với các cộng đồng đang phát triển do vùng cà phê mọc, không phải vì cà phê gây ra chúng. Hiện tại vẫn chưa có các biện pháp ngành công nghiệp hiện có đủ để bảo vệ người nông dân nhỏ lẻ khỏi các bệnh nhiệt đới địa phương và các bệnh khác, nhưng các chương trình chứng nhận đã đặt ra các tiêu chuẩn để cung cấp cho người lao động, đặc biệt là ở các trang trại lớn với quỹ lao động thuê một cơ hội tiếp cận chăm sóc sức khỏe cơ bản. Trong vài thập kỷ qua, các tổ chức chứng nhận và các chương trình cà phê đã đóng góp vào việc cung cấp môi trường an toàn hơn cho người trồng cà phê và người lao động cà phê. Các nỗ lực bao gồm việc cung cấp khung việc sử dụng thuốc trừ sâu an toàn, chăm sóc sức khỏe, mã lệnh phòng ngừa tai nạn và vệ sinh tốt, để kể một vài. Ngoài ra, còn có các tổ chức cụ thể như Grounds for Health cung cấp các giải pháp tốt hơn cho các vấn đề cụ thể.

Tổ chức phi lợi nhuận, Grounds for Health, phát triển từ quan sát rằng tỷ lệ ung thư cổ tử cung đặc biệt cao ở phụ nữ trong cộng đồng trồng cà phê nhỏ ở Trung Mỹ, nơi họ không có tiếp cận vào chăm sóc sức khỏe. Tổ chức sử dụng nhân viên mở rộng từ các hợp tác xã trồng cà phê để lan truyền thông điệp đến phụ nữ trong cộng đồng của họ, tuyển dụng họ để kiểm tra đơn giản và điều trị hiệu quả tại hiện trường các tế bào tiền ung thư nếu phát hiện. Trong 16 năm qua, 60.000 phụ nữ đã được kiểm tra và 4000 đã được điều trị cho kết quả kiểm tra dương tính (Grounds for Health, 2016). Sinh ra trong ngành công nghiệp cà phê, Grounds For Health ngày nay là tổ chức phi chính phủ duy nhất tập trung đặc biệt vào các vấn đề sức khỏe trong cộng đồng cà phê. Việc kiểm tra và điều trị được Tổ chức Y tế Thế giới công nhận là “một trong những sản phẩm tốt nhất”, có nghĩa là dịch vụ ngăn ngừa hiệu quả chi phí.

Tổ chức tận dụng cả sự lan truyền và niềm tin từ các nhân viên mở rộng của các hợp tác xã cà phê và mạng lưới để tuyển dụng phụ nữ từ cộng đồng để được kiểm tra. Mặc dù không có mối liên hệ giữa cà phê và ung thư cổ tử cung, nhưng có một sự tương quan rõ ràng giữa các khu vực nông thôn nơi cà phê được trồng và tỷ lệ ung thư cổ tử cung. Thông thường, phụ nữ trong những khu vực này không có tiếp cận đủ vào các dịch vụ kiểm tra và điều trị có thể cứu sống họ.

2.4 Cung cấp Giáo dục

Mục tiêu phát triển bền vững về giáo dục yêu cầu tất cả trẻ em, cả nam và nữ, hoàn thành giáo dục tiểu học và trung học vào năm 2030. Mức độ giáo dục và mức độ nghèo đói có mối tương quan cao. Các nước có thu nhập thấp, bao gồm nhiều nguồn gốc cà phê, có tỷ lệ nhập học thấp hơn so với các nước giàu có. Trong các nguồn gốc cà phê, mối quan hệ tương tự thường tồn tại giữa cộng đồng nông thôn có thu nhập thấp và cộng đồng đô thị giàu có; tỷ lệ nhập học trung học thường thấp hơn ở vùng nông thôn so với vùng đô thị.

Giáo dục tiểu học và biết viết cơ bản đã là ưu tiên chính sách của các nước đang phát triển, bao gồm các nước sản xuất cà phê, trong nhiều thập kỷ và điều này được phản ánh qua mức độ cao của việc đi học tiểu học. Dữ liệu của Ngân hàng Thế giới (Ngân hàng Thế giới, 2015) cho thấy tỷ lệ nhập học tiểu học ở hầu hết các nước sản xuất cà phê đạt 90% trở lên. Việc hỗ trợ giáo dục thiếu nhi đã lâu trở thành trọng tâm của ngành công nghiệp cà phê, bao gồm các tiêu chuẩn tối thiểu được tích hợp trong các chương trình chứng nhận liên quan đến việc tiếp cận trường học và cấm trẻ em tuổi học đang làm việc trong giờ học, các sáng kiến của các công ty cà phê xây dựng trường học, để kể ra hai ví dụ. Do bệnh tật, sốc tài chính hoặc các thách thức khác, không hiếm khi học sinh bị trì hoãn trong việc hoàn thành giáo dục tiểu học và tốt nghiệp khi là thiếu niên. Mặc dù thường có chi phí đi kèm với giáo dục tiểu học (như học phí, đồng phục, sách vở, v.v.) những chi phí này thường là hợp lý và nằm trong khả năng của các nông dân nhỏ lẻ nghèo khổ.

Giáo dục trung học cho cộng đồng trồng cà phê đặt ra một câu chuyện khác. Những chi phí này được chính phủ hỗ trợ ít hơn và chi phí này nhanh chóng trở nên không thể chịu đựng đối với các nông dân nhỏ lẻ. Kết quả là, dữ liệu cho thấy sự giảm đáng kể trong việc học trung học của trẻ em ở nông thôn. Các sắp xếp hậu cần cũng trở nên khó khăn hơn. Ít học sinh có nghĩa là ít trường học trong một khu vực nhất định, thường đòi hỏi phải đi xa để đến trường trung học. Điều này có thể gây ra chi phí phụ trợ về giao thông và ăn ở, và/hoặc gây áp lực lên bạn bè và gia đình. Khi trẻ em lớn lên, cả nam và nữ đều đại diện cho tiềm năng thu nhập kinh tế quan trọng đối với gia đình. Điều này có thể là hình thức lao động thủ công trên nông trại, cơ hội kiếm thu nhập ngoại trời, hoặc đảm nhận trách nhiệm từ các thành viên gia đình người lớn khác để giải phóng tiềm năng thu nhập của người lớn. Gia đình nông dân trồng cà phê rất nhạy bén với những lợi ích của giáo dục cho con cái, nhưng nếu tài chính eo hẹp, họ có thể không đủ khả năng để đầu tư lâu dài.

Tỷ lệ nhập học không nói lên toàn bộ câu chuyện. Người quan sát phương Tây thường coi giáo dục như một mặt hàng chung chung, như đã được chứng minh qua nhiều sáng kiến xây dựng trường học có ý định tốt tại các cộng đồng trồng cà phê. Ví dụ, một nhà rang cà phê tốt bụng đã xây dựng một trường học trên một trang trại cà phê tại Papua New Guinea, để giáo dục cho con cái của người lao động. Trong một tình huống đặc biệt ở Papua New Guinea, những người lao động đến từ một bộ tộc thù địch với bộ tộc bản địa và chỉ ở đó vì họ không có đất của riêng họ. Do đó, các bậc cha mẹ lao động không sẵn lòng để để lại con cái của họ đối mặt với sự trả thù bộ tộc trong trường học, họ thích đưa con đi làm việc. Việc đi học đều đặn đã trở nên không đều.

Hơn nữa, giáo dục không chỉ có thể đo lường bằng số lượng mà còn bằng chất lượng. Những người trồng cà phê rất nhạy bén với sự khác biệt về chất lượng giáo dục và những hệ quả cho sự thành công trong tương lai của con cái họ. Các hộ gia đình trồng cà phê có tài chính đủ sẽ thường xem xét ngoài các cơ hội giáo dục trung học địa phương và tự hỏi không phải “con tôi sẽ đi học ở đâu” mà là “con tôi có thể nhận được một nền giáo dục tốt nhất ở đâu” ngay cả khi đó có thể là một trường học cách nhà vài ngày đi bộ.

Một tổ chức phi lợi nhuận trong ngành cà phê, Coffee Kids, bắt đầu từ năm 1988 và có nhiệm vụ “hợp tác với thế hệ tiếp theo của những người trồng cà phê để thực hiện toàn bộ tiềm năng của họ như một phần của cộng đồng cà phê toàn cầu.” Coffee Kids cung cấp đào tạo, hướng dẫn và hỗ trợ tài chính cho những người trồng cà phê trẻ để họ có thể triển khai những giải pháp sáng tạo cho những thách thức họ đối mặt trong ngành cà phê đang thay đổi (www.coffeekids.org).

2.5 Giáo dục người lớn

Giáo dục người lớn cho người trồng cà phê đã được triển khai bởi một loạt các tổ chức trong ít nhất nửa thế kỷ qua, bao gồm các cơ quan chính phủ địa phương hoặc tổ chức cà phê, các tổ chức đa phương và song phương, các quỹ từ thiện, các tổ chức phi lợi nhuận, và gần đây hơn là các bên tham gia trong chuỗi cung ứng cà phê (bao gồm các nhà rang cà phê và nhà bán lẻ cà phê.) Lịch sử, các nguồn lực có sẵn đã khiêm tốn so với quy mô nhu cầu và do đó, hầu hết người trồng cà phê trên thế giới có thể hưởng lợi từ việc đào tạo kỹ thuật và kỹ năng kinh doanh bổ sung (xem Chương 7).

2.6 Tăng cường Quyền lợi cho Phụ nữ

Mục tiêu thứ năm yêu cầu bình đẳng giới và tăng cường quyền lợi cho tất cả phụ nữ và cô gái. Điều này bao gồm khát vọng chấm dứt phân biệt đối xử và bạo lực chống lại phụ nữ và cô gái ở mọi nơi, đảm bảo quyền truy cập bình đẳng vào giáo dục và quyền lợi kinh tế bình đẳng.

Phụ nữ thực hiện nhiều công việc trên các trang trại cà phê nhỏ, bao gồm các hoạt động chăm sóc và chế biến chính ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng cà phê. Tuy nhiên, phụ nữ thường có ít quyền lợi về thu nhập từ cà phê, ít quyền sở hữu đất, và quyền sử dụng đất, điều này dẫn đến việc hạn chế quyền truy cập vào các nguồn lực kinh tế khác như tín dụng, đào tạo hoặc nguyên vật liệu. Định kiến xã hội ưa ái nam giới sâu sắc trong văn hóa và truyền thống khắp nơi trồng cà phê.

h 18 e1705301684362

Việc giao cà phê được kiểm tra và theo dõi theo lô

Việc giao cà phê được kiểm tra và theo dõi theo lô

Nhiều sáng kiến đã được triển khai trong ngành cà phê để thúc đẩy bình đẳng giới. Viện Chất lượng Cà phê (CQI) đã khởi xướng một sáng kiến vào năm 2014 mang tên Đối tác vì Bình đẳng Giới (PGE) nhằm chú ý đến tình trạng hiện tại cụ thể trong ngành cà phê. Ngoài ra, trong một báo cáo công bố về kết quả sáng kiến lần đầu tiên, nó vẽ ra một con đường phía trước cho ngành công nghiệp. Một tổ chức phi chính phủ khác, Liên minh Cà phê Quốc tế cho Phụ nữ, được thành lập vào năm 2003 với mục tiêu tăng cường quyền lợi cho phụ nữ trong cộng đồng cà phê quốc tế để đạt cuộc sống ý nghĩa và bền vững và khuyến khích và công nhận sự tham gia của họ trong tất cả các khía cạnh của ngành công nghiệp.Tất cả các chứng nhận đều bao gồm lời kêu gọi bình đẳng giới, trong khi giai đoạn tiếp theo của CQI PGE nhằm mục đích soạn thảo chính sách toàn ngành. Nói tóm lại, có sự thừa nhận rộng rãi rằng phụ nữ cần được tôn trọng quyền bình đẳng cơ bản của con người.

Đấu trường cà phê đưa ra một kịch bản thú vị khi nhiều vùng trồng cà phê đã xảy ra chiến tranh và xung đột khiến nam giới rời xa vai trò làm nông truyền thống của họ, để thay thế vai trò của phụ nữ. Với hòa bình và sự trở lại của nam giới, các vai trò truyền thống đã được đánh giá lại. Một ví dụ như vậy là Nicaragua, nơi cuộc nội chiến giữa Sandinistas và Contras tiếp tục diễn ra trong suốt những năm 1980.

2.7 Đảm bảo sẵn có Nước và Vệ Sinh

Mục tiêu phát triển bền vững thứ sáu yêu cầu mọi người có quyền truy cập vào nước uống sạch và giá cả phải chăng, cũng như vệ sinh và vệ sinh công bằng. Sự khan hiếm nước và vấn đề vệ sinh đại diện cho một trong những thách thức cấp bách nhất đối với nhân loại. Hơn một tỷ người, tức là một phần năm dân số thế giới, sống ở những khu vực khan hiếm nước vật lý. Báo cáo sau đó cho biết rằng 2,5 tỷ người không có quyền truy cập vào nước “an toàn” (để sử dụng cho con người). Phụ nữ và cô gái ở châu Phi và châu Á đi bộ trung bình 6 km để lấy nước. Hơn 2 tỷ người thiếu nước đủ cho vệ sinh đúng đắn. Gần 1000 trẻ em chết mỗi ngày do các bệnh tiêu chảy liên quan đến nước và vệ sinh có thể ngăn ngừa được. Đến năm 2050, dự đoán hơn một trong bốn người sẽ sống ở một quốc gia chịu ảnh hưởng của tình trạng khan hiếm nước ngọt một cách lâu dài hoặc lặp đi lặp lại.

Nông nghiệp là rất quan trọng đối với sự sống còn của chúng ta nhưng chặt chẽ với những thách thức về nước mà chúng ta đang đối mặt. Nông nghiệp chiếm trách nhiệm cho 70% nước ngọt được tiêu thụ bởi hoạt động của con người. Khi được quản lý tốt, nông nghiệp có thể bảo vệ lưu vực mà cộng đồng và hệ sinh thái phụ thuộc vào; duy trì đất và hệ sinh thái khỏe mạnh, bảo vệ tầng nước dưới đất, và ngăn chặn sự phá rừng và xói mòn. Khi nông nghiệp được quản lý kém, nó có thể gây hại hoặc phá hủy những lưu vực và hệ sinh thái này mà không thể sửa chữa. Tầng nước dưới đất có thể bị cạn kiệt theo cách “thảm họa của cộng đồng,” lưu vực bị cắt trụi cây, và dòng suối bị ô nhiễm bởi các hóa chất nông nghiệp hoặc chất ô nhiễm khác. Ngoài những thách thức về môi trường này, quản lý nước kém còn tạo ra những thách thức xã hội bao gồm khan hiếm nước và vấn đề vệ sinh, đặc biệt là đối với cộng đồng ở hạ lưu.

May mắn thay, so với nhiều hình thức nông nghiệp khác, sản xuất cà phê nói chung có một dấu chân môi trường nhẹ. Hầu hết các trang trại cà phê được tưới bằng mưa; mặc dù tưới tiêu được sử dụng bởi khoảng 5 đến 10% trang trại cà phê trên thế giới, đặc biệt là ở Brazil và Việt Nam. Ở nhiều nguồn gốc cà phê, sản xuất cà phê đã đóng vai trò bảo vệ hệ sinh thái và tầng nước dưới đất bằng cách tạo ra lý do kinh tế để bảo vệ rừng mưa thay vì chặt phá. Cà phê là loại cây có thể, thường được trồng kết hợp với tán cây rừng mưa bổ sung, và hệ thống rễ sâu giúp bảo vệ đất khỏi xói mòn so với việc sử dụng đất nông nghiệp như chăn nuôi gia súc.

Tuy nhiên, vẫn còn những thách thức. Ở Việt Nam, việc tưới quá mức trong ngành công nghiệp cà phê phổ biến góp phần vào tình trạng khan hiếm nước đặc biệt trong thời kỳ hạn hán. Việc trồng đơn vị cần sự quản lý tốt hơn nếu muốn bảo vệ lưu vực và hệ sinh thái. Khi cà phê được chế biến bằng phương pháp “rửa hoàn toàn”, nước xử lý không luôn được quản lý một cách hiệu quả, dẫn đến ô nhiễm dòng suối kế cận.
Các hiệp ước, luật pháp quốc gia, và chương trình chứng nhận và xác minh đóng vai trò quan trọng bằng cách mã hóa các phương pháp tốt nhất bao gồm bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên, bảo vệ lưu vực và đất ngập nước khỏi xói mòn và ô nhiễm, và phát triển các chương trình bảo tồn nước. Những biện pháp này và những biện pháp khác đang tạo ra sự khác biệt.

Ô nhiễm nước từ nhà máy chế biến ẩm là một ví dụ tốt về việc các sáng kiến đa mặt ngày càng giải quyết vấn đề ở nhiều nguồn gốc cà phê. Sự kết hợp của các công nghệ mới để giảm sử dụng nước và ngăn chặn ô nhiễm, các luật lệ mới, các tiêu chuẩn chứng nhận và sự nhận thức ngày càng tăng ở mọi cấp độ của chuỗi cung ứng cà phê từ người nông dân đến người rang xay đang từ từ biến đổi cách cà phê được chế biến trên toàn thế giới. Ở nhiều mặt, ngành công nghiệp cà phê đã là người tiên phong trong lĩnh vực này, tạo ra các mẫu hình bảo tồn và bảo vệ nước đã được sao chép trong các ngành công nghiệp khác.

Có những giải pháp sáng tạo tồn tại. Ở Costa Rica, một số thành phố đang trả tiền cho chủ đất vì dịch vụ nước và môi trường khác. Ở Ethiopia, Mother Parkers Coffee and Tea đang ủng hộ một chương trình sáng tạo mang tên “Water Wise” sử dụng cỏ vetiver để lọc nước từ nhà máy ẩm để ngăn chặn ô nhiễm đến các dòng sông kế cận. Một thử nghiệm tại một nhà máy Jardí ở Colombia đã chứng minh tiềm năng của việc chế biến tập trung để cung cấp lợi ích xã hội đáng kể bao gồm giảm tiêu thụ nước, cải thiện xử lý nước chế biến, và tiết kiệm thời gian.

Một ví dụ cụ thể có thể thấy ở những nhà máy rửa truyền thống, mà sử dụng nhiều nước để chế biến cà phê từ việc nhận và sắp xếp, đến việc lột vỏ, lên men, rửa, phân loại, và vận chuyển sản phẩm thô. Thiết bị mới, gọi là “máy lột vỏ thân thiện với môi trường,” có thể hoạt động hiệu quả với chỉ 1/10 lượng nước sử dụng, mang lại tiềm năng cho các vùng khô hạn như Cerrado của Brazil, mà vẫn muốn rửa cà phê của họ để tối đa hóa tiềm năng chất lượng (xem Mục 5.3 trong Chương 3 để biết chi tiết hơn về quá trình chế biến nước hiệu quả).

Mặc dù đã có những tiến bộ, chúng ta không thể tự mãn. Áp lực dân số có thể tạo thêm áp lực cho nguồn nước khan hiếm. Biến đổi khí hậu có thể mang đến những thách thức mới liên quan đến nước bao gồm sự biến đổi trong mô hình thời tiết, thách thức lớn hơn trong việc bảo vệ độ ẩm đất, ngăn chặn xói mòn, và bảo vệ tính nguyên vẹn của nguồn nước.

Câu chuyện nước Yemen

Câu chuyện nước Yemen

Trồng cà phê ở Yemen

Trồng cà phê ở Yemen

Câu chuyện nước Yemen

Câu chuyện nước Yemen

2.8 Công việc tử tế cho tất cả mọi người

Mục tiêu phát triển bền vững thứ tám tập trung vào một loạt các vấn đề liên quan đến sự phát triển kinh tế bền vững, việc làm đầy đủ và hiệu quả, và công việc tốt đẹp cho tất cả mọi người. Điều này bao gồm khát vọng loại bỏ lao động bắt buộc và chấm dứt lao động trẻ em ở mọi hình thức vào năm 2025. Nhiều bên liên quan bao gồm các nhà rang và bán lẻ cà phê, Tổ chức Lao động Quốc tế, chính phủ, các nhà hoạt động dân sự, các tổ chức phi lợi nhuận và các chương trình chứng nhận đã làm việc để phát triển và thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu bao gồm Tự do Tổ chức, hợp đồng có thể đọc được, giới hạn giờ làm việc, cũng như nỗ lực cấm hoặc giảm thiểu lao động bắt buộc và lao động trẻ em. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều công việc phải làm trong lĩnh vực này. Tuân thủ mức lương tối thiểu cũng là một vấn đề trong ngành cà phê, đặc biệt là đối với lao động thu hoạch. Công nhân thu hoạch thường được trả theo năng suất (pounds cà phê thu hoạch thay vì số giờ làm việc). Mặc dù luật lao động khác nhau từ quốc gia này sang quốc gia khác, một cách diễn giải phổ biến là công nhân có thể được trả bằng cách sử dụng một đơn vị năng suất miễn là mức lương thực tế đạt được mức lương tối thiểu hàng ngày. Một loạt các báo cáo cho thấy rằng mức lương tối thiểu được quy định quốc gia không được trả đồng đều cho công nhân cà phê (Bộ Lao động Hoa Kỳ, 2013; SCAA, 2016).

Nhiều nỗ lực đã được thực hiện bởi các tổ chức chứng nhận, các tổ chức phi lợi nhuận, chính phủ, các công ty cà phê và những người khác để cung cấp một khung việc lập chuẩn cho quyền của người lao động và lao động trẻ em. Điều này bao gồm việc lập chuẩn về các thực tiễn liên quan đến lao động bắt buộc, lao động trẻ em, tự do tổ chức, hợp đồng có thể đọc được, giới hạn giờ làm việc và giới hạn công việc nguy hiểm. Ngành cà phê đã ở vị trí hàng đầu trong việc phát triển các tiêu chuẩn chuỗi cung ứng bền vững và đã cung cấp một mẫu hình cho các ngành công nghiệp khác đang tìm kiếm một giải pháp cung ứng bền vững. Các thành viên của ISEAL Alliance (tổ chức hội viên toàn cầu về tiêu chuẩn bền vững) bao gồm Fairtrade, Rainforest Alliance/mạng lưới nông nghiệp bền vững (SAN) và UTZ (chứng nhận nông nghiệp bền vững) hiện đang cùng nhau làm việc để vượt qua mức lương tối thiểu và chuyển sang mức lương sinh sống .

2.9 Sự lão hóa của nông dân

Nhiều nguồn gốc cà phê đang tận hưởng sự phát triển kinh tế ổn định vượt trội so với trung bình toàn cầu (Ngân hàng Thế giới, 2015). Mỗi năm trong 5 năm qua, Colombia đã vượt qua Hoa Kỳ về tốc độ tăng trưởng kinh tế, và Ethiopia đã phát triển nhanh hơn cả Trung Quốc. Sự phát triển này thường đi kèm với mức lương tối thiểu tăng, đồng tiền mạnh lên và cơ hội làm việc mở rộng ra ngoài các lĩnh vực truyền thống.

Đây là những phát triển đáng khích lệ đáng để mừng, tuy nhiên, chúng đặt ra những thách thức mới cho các ngành công nghiệp xuất khẩu truyền thống như cà phê bằng cách tăng chi phí sản xuất so với nguồn gốc cà phê cạnh tranh và tăng khó khăn trong việc tìm kiếm sự quan tâm của thị trường lao động đối với việc trồng cà phê hoặc lao động. Báo cáo của Sustainable Trade Initiative về Colombia đã phân tích rằng trồng cà phê trên một trang trại cà phê 2 ha ít được thù lao hơn nhiều so với nhiều công việc khác bao gồm lái xe tải, làm việc trong nhà máy dệt, hoặc thậm chí là mức lương của một người lao động nông nghiệp không chính thức (TechnoServe và IDH, 2014).

Những xu hướng này, kết hợp với việc nâng cao trình độ học vấn dẫn đến những lo ngại thường xuyên được trích dẫn về sự già đi của người trồng cà phê. Cùng một nghiên cứu của IDH (sáng kiến thương mại bền vững Hà Lan hoạt động tích cực trong ngành cà phê) đã báo cáo độ tuổi trung bình của người trồng cà phê Colombia là 56 tuổi. Những con số này phản ánh những lo ngại đáng kể về tính bền vững lâu dài của một ngành công nghiệp cà phê phát triển mạnh mẽ trong các nền kinh tế đang phát triển, nơi chi phí thực tế và chi phí cơ hội đang tăng. Tuy nhiên, Hội đồng Tín dụng Nông nghiệp ở Hoa Kỳ đưa ra một quan điểm thú vị về vấn đề này. Ở Hoa Kỳ, độ tuổi trung bình của một người nông dân còn cao hơn cả 58 tuổi và đã tăng ổn định trong ít nhất 40 năm qua (Duncanson & Hays n.d; Johr, 2012). Các tác giả cho thấy sự tăng này đến một mức độ lớn do sự già đi tổng thể của lực lượng lao động ở Hoa Kỳ trong cùng thời kỳ, chứ không phải do sự không hài lòng cụ thể với nghề nghiệp nông nghiệp. Nói cách khác, một yếu tố góp phần vào sự già đi của người trồng cà phê được quan sát là sự già đi dân số tổng thể xảy ra ở các quốc gia sản xuất cà phê khi tỷ lệ sinh và tuổi thọ tăng lên. Ở Colombia, độ tuổi trung bình của dân số đã gần gấp đôi trong nửa thế kỷ qua (Liên Hợp Quốc – Đại hội Đồng, 2015). Điều này không làm giảm đi những thách thức thực sự mà ngành công nghiệp phải đối mặt khi không thể dễ dàng đáp ứng bằng cách cơ giới hóa thu hoạch (do hạn chế địa hình và chất lượng) hoặc tăng lương để thu hút lao động từ các cơ hội hấp dẫn hơn do sự cạnh tranh toàn cầu. Điều này đề xuất rằng việc phân tích cần được thực hiện để hiểu rõ hơn về động lực thực sự đang diễn ra.

3. Triển vọng

Cà phê là một ngành công nghiệp tiến bộ trong thế giới tiêu dùng. Nếu bạn có thể “pha cà phê đúng cách”, nó chắc chắn có thể mang lại kết quả tốt. Khi sự hiểu biết của chúng ta về tính bền vững ngày càng tăng, một bài học rút ra là có sự đa dạng xã hội to lớn trong ngành cà phê và nhu cầu cá nhân phải được xem xét dựa trên địa lý, bối cảnh quốc gia và quy mô trang trại, cùng một số nhu cầu khác. Sự ra đời của chứng nhận và các tiêu chuẩn khác đã thu hút sự chú ý đến các vấn đề xã hội trong ngành cà phê, giúp nâng cao nhận thức của người tiêu dùng và tạo ra khuôn khổ để cải tiến theo thời gian. Là một mặt hàng tiêu dùng hàng ngày, cà phê cũng đè nặng lên khẩu vị của loài người. Và khi có những vấn đề xã hội liên quan đến một mặt hàng tiêu dùng, người tiêu dùng có trách nhiệm phải thể hiện sự quan tâm. Đồng thời, là một loại cây trồng nhiệt đới có thể cùng tồn tại với các loại cây trồng tự cung tự cấp được yêu thích ở những người tiêu dùng giàu có hơn trên thế giới, cà phê độc đáo ở khả năng cung cấp cho người nghèo một phương tiện để cải thiện cuộc sống của họ. Đặt hai cái này cạnh nhau, khía cạnh lời nhắc nhở hàng ngày rằng đồ uống đại diện cho người uống nó và khả năng tạo ra tiền mặt cho những người bị tước quyền và chúng ta có thể hy vọng rằng cà phê sẽ đưa ra một giải pháp. Là một mặt hàng tồn tại trong tình trạng căng thẳng này, cà phê là ngọn hải đăng của hy vọng.

Chúng tôi sẽ để lại lời cuối cùng cho Nelson Mandela;

Không có niềm đam mê nào được tìm thấy khi chơi trò nhỏ nhặt, trong việc giải quyết một cuộc sống ít hơn cuộc sống mà bạn có khả năng sống.
Nó luôn luôn dường như là không thể, cho đến khi nó được thực hiện.
Sau khi leo lên một ngọn đồi lớn, người ta chỉ thấy rằng còn rất nhiều ngọn đồi nữa để leo.

Số 25 BT5, Khu đô thị Pháp Vân Phường Hoàng Liệt, Quận Hoàng Mai 11719
Thứ Hai, Thứ Ba, Thứ Tư, Thứ Năm, Thứ Sáu, Thứ Bảy, Chủ Nhật09:00 – 17:00

Chương 3: Tasting Coffee: An Inquiry into Objectivity

Chương 3: Cơ sở lịch sử và Tri thức của tính Khách quan Sự giải thích, sự hiểu biết và tính khách quan thuộc về nhau. —Günter Figal (2010, 121) Một tài khoản lịch sử của tính khách quan Trong chuyên luận dài 500 trang về nền tảng lịch sử của tính khách quan, Lorraine...

Chương 2: Tasting Coffee: An Inquiry into Objectivity

Chương 2: Chuỗi sản xuất cà phê Một cuộc điều tra về giao tiếp trong chuỗi cà phê không đòi hỏi phải có dân tộc học mà là dân tộc học của từng vị trí trong chuỗi. Chuỗi sản xuất cà phê, hay còn gọi là “chuỗi cung ứng”, “chuỗi giá trị” hay (trong tiếng Ý) la filiera,...

Chương 1: Tasting Coffee: An Inquiry into Objectivity

Chương 1: Sơ lược lịch sử cà phê Thị trường Mỹ tập trung vào tay một số ít nhà cung cấp đã bão hòa với cà phê kém chất lượng, giá rẻ. —Jon Thorn (2006, 74) Ngoại trừ ở Ethiopia, cà phê không phải là đồ uống cổ xưa. Ngoài cách sử dụng truyền thống ở Ethiopia và Yemen,...

Chương 25: Starting & Running a Coffee Shop

Chương 25: Nhìn về phía trước Khi bạn tập trung vào thách thức hàng ngày là phục vụ khách hàng, dọn dẹp khu vực chỗ ngồi và đặt hàng đồ dùng, bạn rất dễ quên rằng bạn đã bắt đầu công việc kinh doanh này với những mục tiêu lớn hơn: chẳng hạn như trở thành ông chủ của...

Chương 24: Starting & Running a Coffee Shop

Chương 24: Tiếp thị quán cà phê của bạn Nếu bạn muốn kiếm tiền từ việc kinh doanh cà phê và không giữ tất cả những hạt cà phê tuyệt vời đó cho riêng mình, bạn cần nói với khách hàng tiềm năng rằng bạn tồn tại. Ngoài việc quảng bá cho bản thân và quán cà phê của bạn ở...
Giỏ Hàng0
Không có sản phẩm nào trong giỏ hàng
Tiếp tục mua sắm
0